đẩy mạnh
hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) trong
toàn Học viện cơ sở cũng như ở từng
Khoa, Pḥng. Hàng năm, Học viện cơ sở đều
có xây dựng kế hoạch hoạt động KHCN,
phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Khoa, Pḥng mà
thường trực là Tổ quản lư nghiên cứu
khoa học giúp việc cho Hội đồng khoa học
nhà trường dưới sự chỉ đạo
trực tiếp cua đồng chí Phó Giám đốc Học
viện, phụ trách Học viện cơ sở. Hoạt
động KHCN của Học viện cơ sở
đă bám sát định hướng của Bộ Khoa
học Công nghệ và môi trường, Bộ Thông tin và
Truyền thông, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
Việt Nam và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn
thông với phương châm không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo, đổi mới giáo án giảng
dạy, cải tiến phương pháp truyền đạt
làm cho sinh viên chuyển từ việc học tập thụ
động sang phương pháp tự nghiên cứu.
Chính v́ vậy, từ năm 2000 đến 2007 đă có
41/65 đề tài của các thầy cô giáo trong Học
viện liên quan trực tiếp đến công tác giảng
dạy và quản lư cơ sở được Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông công nhận
đề tài cấp Học viện, đồng thời
có 41 lượt đề tài của các giảng viên
được đăng tải trên báo chí, các Hội
thảo trong và ngoài nước nhằm chia sẻ, trao
đổi, phổ biến kinh nghiệm trong giới
khoa học, tiêu biểu như các đề tài: Thiết
kế, lắp ráp thiết bị giảng dạy thí
nghiệm,. thực hành môn cơ sở kỹ thuật
truyền h́nh, Nghiên cứu chế tạo thiết bị
giảng dạy thực hành vi điều khiển, Thực
hiện mô h́nh trải rộng máy phát h́nh phục vụ
giảng dạy môn kỹ thuật truyền h́nh, Tận
dụng các mạch E&M của các kênh thoại DMS
(AWA) để truyền tín hiệu giám sát và cảnh
báo về trung tâm quản lư, Thiết kế và thi công
máy đếm tần số vi ba 3,5 GHz, Xây dựng mô
h́nh thực hành mạng VoIP… Một điểm đáng
ghi nhận khác là hoạt động KHCN tại Học
viện không chỉ dừng lại trong việc
khơi dậy và huy động đông đảo
đội ngũ thầy cô giáo tham gia hoạt động
KHCN mà phong trào c̣n được lan tỏa tới
đông đảo sinh viên tham gia. Qua 8 năm hoạt
động (2000-2007), phong trào nghiên cứu khoa học của
sinh viên từng bước phát triển cả về
quy mô lẫn chất lượng, giúp cho sinh viên tự
nghiên cứu, nâng cao tŕnh độ học tập và
hoàn thiện tốt các chuyên đề tốt nghiệp
của ḿnh. Với 91/146 đề tài khoa học của
326 lượt sinh viên tham gia hoạt động NCKH
cho thấy Học viện đă đi đúng tiêu chí là
không ngừng đổi mới phương pháp giảng
dạy trong môi trường đại học, góp phần
nâng cao chất học tập của sinh viên. Đặc
biệt Học viện cơ sở đă đạt 4
giải thưởng tại các các kỳ thi sinh viên
nghiên cứu khoa học do Bộ Giáo dục và đào tạo
tổ chức.
|
|
Việc Học
viện cơ sở xác định gắn kết kết
quả đào tạo giữa trường đại
học với cơ sở nghiên cứu khoa học và
đơn vị sản xuất kinh doanh trong thời
gian qua không chỉ biến nghị quyết của
Đảng đi vào cuộc sống mà c̣n làm tốt
vai tṛ của một cơ sở được ngành
giao cho là đầu mối nghiên cứu ứng dụng
khoa học cơ bản, chiến lược phát triển
BCVT, ứng dụng CNTT và điện tử Viễn
thông ở phía Nam nên ngoài việc chú trọng nhiệm vụ
NCKH nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
tại cơ sở, Học viện c̣n có nhiều
đề tài ứng dụng vào sản xuất kinh
doanh của các đơn vị như: Nghiên cứu ảnh
hưởng của kinh tế xă hội của quá tŕnh
mở cửa viễn thông ở Việt nam, Giải
pháp hoàn thiện vấn đề kết nối nhằm
nâng cao tính cạnh tranh của thị trường viễn
thông Việt Nam, Ứng dụng công cụ điều
tiết giá cả trong quản lư Nhà nước đối
với ngành viễn thông, giúp cho các nhà hoạch định
chính sách cũng như các đơn vị SXKD viễn
thông nắm bắt t́nh h́nh đưa ra chiến lược
quản lư và kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra c̣n có các đề tài: Đánh giá kết quả
cổ phần hóa tại công ty chuyển phát nhanh thuộc
Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh, Xây dựng
hệ thống LCMS (Learning Content Management Sytem) phục
vụ đào tạo từ xa tại Trung tâm đào tạo
Bưu chính Viễn thông 2, Các giải pháp nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh tại Bưu điện
TP.HCM, đă giúp cho các nhà quản lư tại cơ sở
có cái nh́n tổng quan t́nh h́nh để hoạch định
chiến lược quản lư hoặc kinh doanh phù hợp.
Song
song đó, công tác NCKH của Học viện đă
hướng tới việc hợp đồng liên kết
và chuyển giao công nghệ cho Viện nghiên cứu
Điện tử- Viễn thông (ETRT) Hàn Quốc với
4 hợp đồng trị giá 77.300 USD về dự án
phát triển sản phẩm chuyển giao công nghệ
chọn gói.
Có
được bức tranh nhiều màu sắc trong hoạt
động NCKH như trên, trước hết phải
nói tới công tác quản lư của Học viện
cơ sở có nề nếp. Ngay vào đầu năm
học, Học viện cơ sở đă lập kế
hoạch và chủ động triển khai cụ thể
nội dung hoạt động NCKH đến các Khoa,
pḥng và các thầy cô giáo, kết hợp tốt khâu phát
động với đăng kư, quản lư, xét duyệt,
cấp kinh phí một cách đồng bộ, tạo ra
phong trào sâu rộng. Chính nề nếp quản lư này mà
đă có hàng chục đề tài khoa học được
đưa vào giảng dạy tại trường,
được đăng tải trên các phương
tiện thông tin đại chúng và chuyển giao cho các Viện
nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng vào thực
tiễn SXKD. Thông qua các đề tài, Học viện
đă ứng dụng xây dựng đề cương
chi tiết chương tŕnh đào tạo cho các chuyên
ngành tại cơ sở Học viện, nghiên cứu,
chế tạo, thiết kế các phần cứng,
chương tŕnh phần mềm phục vụ cho việc
thí nghiệm, thực hành và giảng dạy cho sinh viên
đồng thời xây dựng thêm các chuyên ngành đào
tạo mới, xây dựng hệ thống giáo tŕnh
đạt chuẩn và thường xuyên cập nhật
mới nhằm nâng cao năng lực NCKH cho từng giảng
viên, tạo nguồn cán bộ cho chính cơ sở và
cho xă hội.
Tuy
nhiên, nh́n lại 8 năm hoạt động KHCN thời
gian qua cho thấy vẫn c̣n những tồn tại cần
khắc phục nhằm làm cho hoạt động KHCN
khởi sắc hơn nữa, nhất là các chính sách vĩ
mô và các giải pháp khác làm thế nào để gắn
việc NCKH với SXKD trong ngành. Thứ nhất, v́ kết
quả của hoạt động khoa học và công nghệ
là một sản phẩm đặc biệt, hàm chứa
trí tuệ và chất xám cao, sản phẩm ấy ra
đời trước hết xuất phát từ một
ư tưởng nào đó của nhà khoa học, ư tưởng
được thai nghén qua thời gian, ngoài tư duy
c̣n cần tới cảm hứng sáng tạo từ
chính các nhà khoa học, cho nên Nhà nước cần có một
chính sách rơ ràng hơn hỗ trợ cho các nhà khoa học.
Chẳng hạn nhà khoa học có một đề tài
muốn tham dự Hội nghị khoa học trong
nước hay quốc tế tất yếu phải cần
được hỗ trợ kinh phí đi lại,
ăn ở. Vé vào cửa dự các hội nghị tầm
quốc tế thường khá cao, hay muốn
đăng đề tài nghiên cứu khoa học của
minh lên các phương tiện truyền thông quốc tế
cũng phải trả phí rất cao so với thu nhập
của nhà khoa học c̣n thấp. V́ vậy cơ hội
để trao đổi giao lưu các đề tài
khoa với bạn bè thế giới là ít nếu không có
kinh phí và không được Nhà nước hỗ trợ.
Thứ hai, việc cấp kinh phí cho các đề tài
khoa học của các nhà khoa học thường rất
chậm, thông thường vào tháng 6, tháng 7 của
năm kế hoạch mới được duyệt
và chuyển kinh phí tới các đề tài. Tháng 10 hay
tháng 11 bắt đầu hối thúc phải làm nhanh
để quyết toán xong trong năm. Như vậy sẽ
làm cho các nhà khoa học chịu một áp lực lớn
với thời gian mà áp lực này đôi khi làm mất
đi cảm hứng sáng tạo của chính các nhà khoa
học. Thứ ba, trong tổng số 41 đề tài
khoa học được công nhận mà mới chỉ
có một vài đề tài gắn được với
SXKD quả là con số bé nhỏ so với yêu cầu:
NCKH - chuyển giao tới các đơn vị sản
xuất. Để làm được điều này,
ngoài sự tự thân vận động của các
cơ sở đào tạo, bản thân các nhà khoa học,
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam phải
đưa ra một hệ thống văn bản mang
tính pháp quy, chỉ đạo cho các đơn vị
trong Tập đoàn phối hợp tốt với Học
viện trong việc ứng dụng các đề tải
khoa học đạt chất lượng cao đă
được các ngành chức năng công nhận, làm
thế nào để nghiên cứu của các nhà khoa học
gắn kết mang lại hiệu quả cao cho SXKD.
Khi
chúng tôi viết xong bài viết này cũng là dịp những
cánh hoa mai, hoa đào đang nở rộ đón chào
năm mới: năm Kỷ Sửu 2009. Hy vọng trong
thời gian tới hoạt động KHCN của Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở
tại thành phố Hồ Chi Minh đơm hoa kết
trái, tựa như những cánh hoa đào hoa mai rực
rỡ trong nắng xuân, gặt hái được nhiều
thành tựu hơn nữa.
|